Sản xuất cà phê theo hướng hữu cơ

Ngày 12 tháng 02 năm 2019

Đề tài “Nghiên cứu xây dựng mô hình liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm cà phê theo hướng hữu cơ tại tỉnh Sơn La” đã góp phần quan trọng hướng đến sản phẩm cà phê sạch, xây dựng thương hiệu cho cà phê Sơn La.



Lãnh đạo và người dân xã Chiềng Cọ (Thành phố) và xã Chiềng Ban (Mai Sơn)

tham quan mô hình sản xuất cà phê theo hướng hữu cơ tại xã Chiềng Cọ.


Sơn La là tỉnh trồng cà phê Arabica lớn thứ hai của Việt Nam, đến nay, cà phê trở thành một đặc sản của Sơn La và từng bước khẳng định vị trí vững chắc trên thị trường. Tuy nhiên, sản phẩm cà phê và các vườn cà phê tại Sơn La không đồng đều, hiện có khoảng trên 60% vườn khá tốt, gần 40% vườn còn trung bình, yếu, việc sử dụng phân bón còn chưa đúng chủng loại và kỹ thuật. Người trồng cà phê vẫn hay sử dụng các loại phân bón hóa học, thuốc ngoài danh mục được phép sử dụng để phun trừ các loại sâu bệnh trên cà phê đã làm ảnh hưởng đến chất lượng cũng như thương hiệu cà phê.


Trước thực trạng đó, tỉnh ta đã tập trung triển khai các giải pháp phát triển cà phê theo hướng bền vững. Trong đó, cơ cấu lại tổ chức sản xuất, xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ thành lập các hợp tác xã trồng, chăm sóc cà phê; xây dựng các nhóm nông dân hợp tác tự nguyện, liên kết giúp nhau sản xuất. Đặc biệt, năm 2016, UBND tỉnh Sơn La đã phê duyệt cho Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển nông lâm nghiệp Tây Bắc chủ trì thực hiện Đề tài khoa học cấp tỉnh “Nghiên cứu xây dựng mô hình liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm cà phê theo hướng hữu cơ tại tỉnh Sơn La”.


Thạc sỹ Nguyễn Thị Vân, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển nông lâm nghiệp Tây Bắc cho biết: Hiện nay, một số hộ gia đình trên địa bàn Thành phố và xã Chiềng Ban (Mai Sơn) đang xây dựng mô hình liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm cà phê theo hướng hữu cơ, tham gia mô hình này, các gia đình phải sử dụng những loại phân có nguồn gốc hữu cơ, như phân chuồng đã ủ hoai mục, phân hữu cơ vi sinh, các loại phế, phụ phẩm nông nghiệp để bón cho cây, vệ sinh đồng ruộng, tỉa hình tạo tán để tạo môi trường thông thoáng, nhằm hạn chế sâu bệnh. Ngoài ra, khi sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật phải có nguồn gốc sinh học, như: Chế phẩm Ketumium hoặc chế phẩm AT để phun phòng trừ sâu bệnh. Áp dụng nghiêm ngặt mô hình này, đến kỳ thu hoạch, những quả chín đạt từ 85% trở lên và các sản phẩm thu hái không bị lẫn tạp các loại đất hay cành lá trên vườn.


Trên địa bàn tỉnh Sơn La hiện có 3 cơ sở chế biến cà phê nhân, 24 cơ sở chế biến cà phê thóc và 103 cơ sở sơ chế cà phê. Các cơ sở chế biến tập trung chủ yếu ở huyện Mai Sơn, Thuận Châu  và Thành phố. Hầu hết các cơ sở chế biến cà phê đều nhỏ lẻ, thiếu sự liên kết với người sản xuất, cũng như liên kết giữa các cơ sở với nhau; người dân canh tác cà phê còn phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, chưa áp dụng các kỹ thuật canh tác tiên tiến trong sản xuất. Trước những thực trạng đó, nhóm nghiên cứu đã xây dựng 2 mô hình sản xuất cà phê theo hướng hữu cơ tại xã Chiềng Cọ (Thành phố) và xã Chiềng Ban (Mai Sơn) để tạo tiền đề cho sản xuất cà phê có hiệu quả lâu dài và bền vững, đảm bảo chất lượng sản phẩm cà phê đạt các tiêu chuẩn quốc tế.


Ông Lò Văn Dược, Tổ trưởng Tổ hợp tác xã sản xuất cà phê tại bản Huổi Khoang, xã Chiềng Ban (Mai Sơn) cho biết: Từ khi tham gia thực hiện mô hình sản xuất cà phê theo hướng hữu cơ, chúng tôi được hướng dẫn kỹ thuật trồng, chăm sóc, sử dụng phân bón hữu cơ thông qua các buổi hội thảo; thăm quan mô hình sản xuất cà phê bằng phương pháp hữu cơ. Qua thực tiễn đánh giá cho thấy, sản xuất cà phê hữu cơ đem lại hiệu quả cao hơn so với phương pháp truyền thống. Thời gian tới, chúng tôi sẽ nhân rộng mô hình này để sản xuất ra sản phẩm cà phê năng suất và chất lượng, đáp ứng yêu cầu xuất khẩu.


Tại mô hình sản xuất cà phê theo hướng hữu cơ ở xã Chiềng Cọ, năm 2017, hộ gia đình có lợi nhuận 76.950.000 đồng/ha khi sơ chế cà phê tươi thành cà phê thóc để bán, cao hơn so với phương pháp truyền thống từ 10-15 triệu đồng/ha. Hàm lượng các chất béo trong hạt cà phê có xu hướng tăng lên khi canh tác theo hướng hữu cơ từ 9,33% - 10,33%, hàm lượng chất khoáng (N,K,Ca) tăng từ 3,37% - 4,65%. Qua đó, nhóm nghiên cứu đã đề xuất, xây dựng mô hình chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ cà phê thành chuỗi khép kín giữa người dân và doanh nghiệp nhằm kiểm soát được chất lượng đầu vào, đầu ra của sản phẩm cà phê, góp phần nâng cao giá trị, giá thành sản phẩm cà phê.


Nói về định hướng để mở rộng sản xuất cà phê theo hướng hữu cơ tại Sơn La, ông Nguyễn Quang Trung, Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển nông lâm nghiệp Tây Bắc, cho biết: Thời gian tới, Trung tâm sẽ phối hợp với các đơn vị, ngành chức năng, các doanh nghiệp và người dân thực hiện liên kết các chuỗi giá trị và các hộ nông dân sản xuất theo chuỗi, giúp các hộ sản xuất cà phê bền vững có phương thức làm việc tập thể theo nhóm hiệu quả; chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, định hướng cho người nông dân sử dụng phân hữu cơ và sử dụng các loại thuốc chế phẩm sinh học để phòng trừ sâu bệnh mang lại hiệu quả nhất; liên kết các chuỗi giá trị từ hộ nông dân cho đến các nhà sản xuất, nhà chế biến để nâng cao giá thành, chất lượng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng.


Sản xuất cà phê theo hướng hữu cơ đang là hướng đi đúng đắn, từng bước thay đổi nhận thức tư duy sản xuất cà phê truyền thống, đem lại hiệu quả kinh tế cho người dân. Đồng thời, bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng sản phẩm cà phê; góp phần đưa sản phẩm cà phê Sơn La ngày càng có vị thế trên thị trường trong nước và quốc tế.


Tìm kiếm theo ngày